Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị này, em sắp được hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!“.

Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan. Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp… Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!

Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện. Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó.

Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường lộ. Người người qua lại đạp lên nó.

Trời đổ mưa, muối Bé, bây giờ là hạt mưa, gặp lại muối To mừng rỡ, ngạc nhiên: “Ôi chị muối To của em, sao chị lại nằm trơ trốc một mình ở chốn này!”. Muối To sụt sùi kể: “Số kiếp của chị khổ lắm, tủi nhục lắm… hu, hu… còn em sống thế nào?”. “Tuyệt lắm chị ơi! – muối Bé hí hửng – khi em hòa tan trong nước biển, em được bay lên trời, thỏa thích ngắm Trái đất trên cao, đẹp lắm. Sau đó em thành mưa tưới mát cho Trái đất thêm xanh tươi. Chưa hết, em còn đi chu du nhiều nơi trên Trái đất trước khi về biển, chuẩn bị một hành trình tuyệt vời khác… Thôi em chào chị, em phải đi để sớm về với cội nguồn”.

Nhìn muối Bé hòa mình với dòng chảy, xa dần… bỗng dưng muối To thèm khát cuộc sống như muối Bé, muốn hòa tan, hòa tan… Nhưng… chao ôi, quá muộn rồi? Nó đã trở thành sỏi đá, mãi sống trong cô đơn, mãi bị người ta chà đạp!
(http://senvangonline.net/)

Muối mà không mặn, không hòa tan trong nước, trong thực phẩm thì chỉ có đem đổ ra ngoài để người ta đạp lên.

Là người theo Thầy Giê-su,tôi phải có một đời sống mặn nồng hương vị của muối tình yêu, để rồi tôi cũng phải được hòa tan trong tình yêu của Thầy và của đời. Chu toàn trách nhiệm và dấn thân trong mọi công việc thì muối Giê-su trong tôi mỗi ngày sẽ ướp mặn cho đời và cho người.

Chúa sử dụng tôi và bạn để muối đời cho mặn và soi chiếu cho mọi người. Chúng ta chuyển tải muối và ánh sáng của Chúa đến cho anh chị em thôi. Tuy nhiên, Chúa lại không nói “Anh em làm muối và làm ánh sáng”, nhưng Người dạy “Anh em là muối và là ánh sáng”. Như thế sứ mệnh của chúng ta quả là tích cực khi chúng ta lấy muối và ánh sáng của Chúa làm muối và ánh sáng của chính mình.
Lạy Chúa xin cho con biết sống giá trị thật của chính mình, mỗi này làm cho vị mặn của tình Chúa chan chứa đời con để con dám hòa tan với anh chị em con con đang rất thiết tình thương, đang rất nghèo đói.

Thứ Ba Tuần X Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mt 5,13-16
13 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn xử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó. 14 Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. 15 Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. 16 Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015


Thế nào là hạnh phúc? tôi lan thang trên net xem thiên hạ nói và nghĩ gì về hạnh phúc

Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết, ông tin rằng hạnh phúc có nghĩa là được làm những điều mình yêu thích và gặt hái được kết quả cao trong công việc.

“Đương nhiên, việc tận hưởng cuộc sống là điều cần thiết. Mọi người cũng như các bạn, họ làm công việc của mình và gặt gái được những thành tựu nổi bật. Đó chính là ý nghĩa của niềm hạnh phúc. Nó cho người ta cơ hội để tận hưởng cuộc sống”, ông Putin cho biết.

ông Putin từng nói ý nghĩa của cuộc sống là tình yêu.

“Ý nghĩa của cả cuộc đời lẫn sự tồn tại của chúng ta chính là tình yêu. Đó là tình yêu dành cho gia đình, cho con cái và cho Tổ quốc. Điều này rất phức tạp, nó là trọng tâm trong mọi hành xử của chúng ta”, nhà lãnh đạo Nga phát biểu.

Theo William Arthur Ward:
Mỗi người đều có quyền năng đem lại hạnh phúc cho người khác
Có người làm điều đó chỉ đơn giản bằng cách bước vào phòng - người khác bằng cách rời khỏi phòng.
Có người để lại sau lưng những bước chân ủ dột; người khác, dấu vết của niềm vui.
Có người để lại sau lưng vệt hận thù và cay đắng; người khác, dấu vết của tình yêu và sự hài hòa.
Có người để lại sau lưng những hoài nghi và bi quan; người khác, dấu vết của niềm tin và sự lạc quan.
Có người để lại sau lưng những chỉ trích và bỏ cuộc; người khác, dấu vết của lòng biết ơn và hy vọng.
Còn bạn, bạn để lại gì sau lưng mình?


Ý nghĩa của từ "happiness"  trong tiếng Anh có nghĩa là "hạnh phúc". Nhưng hạnh phúc là gì?
Từng chữ sẽ định nghĩa vầ Hạnh phúc:
H — Healthy (Sức khỏe)

Giữ gìn sức khỏe mỗi ngày, bạn sẽ lớn lên thật khoẻ mạnh và hạnh phúc! Ăn đúng bữa, tập thể dục, và ngủ đủ giấc đồng thời từ bỏ những thói quen có hại cho sức khoẻ. Có một thể chất khoẻ mạnh giúp bạn vượt qua được nhiều khó khăn ở phía trước.

A — Attitude (Thái độ)

Bạn có biết chú lừa Eeyore trong "Winnie the Pooh" không? Chú luôn gặp phải những tình huống tồi tệ nhất. Và chú đã bỏ cuộc khi chưa kịp khởi đầu việc gì. Nếu bạn có một thái độ tích cực, bạn sẽ tự tin vào chính mình. Hãy luôn tự nhủ và quyết tâm rằng "Mình có thể làm được điều đó."

P — Present (Hiện tại, món quà)

Hãy sống mỗi ngày và mọi ngày ở hiện tại. Hiện tại là một món quà, hãy tận dụng hết những gì cuộc sống mang lại cho bạn chứ đừng lo lắng về những gì đã xảy ra ngày hôm qua hay sẽ xảy ra ngày mai. Bắt đầu từ ngày hôm nay và nghĩ về mục tiêu lâu dài trong cuộc sống bạn nhé!

P — Play (Vui chơi)

Bạn bận rộn đến mức đầu óc căng như ong vò vẻ? Đã đến lúc bạn phải thư giãn với tivi, ca nhạc, máy tính…Hay bạn chỉ cần ngồi một mình, thả hồn ra cửa sổ, ra ngoài ngắm mây trời, cây cối. Nhưng trước hết, bạn hãy lắng nghe một bài hát rất hay đang ngân lên từ trong đầu bạn kìa!

I — Inward (Nội tâm)

Hạnh phúc đích thực bắt nguồn từ chính bạn chứ không thể chịu tác động bởi những lời nói hay việc làm của người khác. Inward cũng có nghĩa rằng hạnh phúc không thể bán, rằng của cải vật chất không mang lại hạnh phúc. Tình yêu thương, sự cảm thông và lòng can đảm đều là những thứ không cần phải mua vì đã có trong chính con người bạn đó.

N — Nut (Hạt)

Hãy thử tưởng tượng một hạt bạn hay ăn với phần bên trong mềm mại được bảo vệ bởi lớp vỏ cứng bên ngoài. Chúng ta cũng như vậy đấy, vẻ bề ngoài chỉ là lớp vỏ để bảo vệ cho phần "nhân" ngọt ngào của bạn ở bên trong.

E - Express Yourself (Bộc lộ chính mình)

Đừng ngồi chờ phép màu nào sẽ đến mà phải tự biết làm sao để có được phép màu cho mình. Thử vẽ một bức tranh, chụp một kiểu ảnh, viết một câu chuyện tình yêu v.v… Đó cũng là cách bạn bộc lộ mình đó, thật kỳ diệu biết bao! Hãy bộc lộ cảm xúc thật của mình!

S - Simple (Đơn giản)

Tại sao bạn cứ làm phức tạp cuộc sống của mình lên nhỉ? Hãy bằng lòng với những gì mình có và không cần phải níu kéo quá sức. Hãy dành thời gian với gia đình của bạn và cùng nhau lắng nghe và chia xẻ.

S - Smile (Nụ cười)

Khi bạn cảm thấy thất vọng, buồn bã thì hãy cố gắng nghĩ ra hay làm điều gì đó để cười, để xoa dịu tâm trạng và cảm xúc của bạn. Bạn chính là người bạn thân nhất của bạn đó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc đích thực tức là bạn không thể mua được tình yêu thương và thời gian là vô giá. Hãy sống mỗi ngày như thể nó không bao giờ quay trở lại và tận dụng hết sức những gì mình có. Vậy, hạnh phúc thực sự không phải là khó, phải không các bạn? 

Người theo Chúa Ki-tô, ai cũng biết đến Tám mối phúc thật, khi ta sống 8 mối phúc thì ta hạnh phúc, nhưng những mối phúc này với chúng ta thật không phải dễ, ai cũng muốn giàu sáng phú quý, ai cũng muốn chức rộng quyền cao, mong muốn người khác tôn trọng mình, sống tự do hưởng thụ, thế mà Chúa lại đưa ra định nghĩa cho "hạnh Phúc" thật là khó thực hiện. Nhưng kỳ thực, gẫm lại xem, lắm tiền nhiều của có thật sự hạnh phúc không khi mà gia đình, con cái không ai quan tâm đến nhau. lắm điều Chúa dạy nghe thì thấy chói tai , nhưng khi thực hành tập sống  thì thấy thật an nhàn, bình an, hạnh phúc.
Xin cho con biết nhìn lên Thập Giá Chúa để con sống trọn vẹn Tám mối phúc, con được Nước Trời là của con, được, đất hứa làm gia nghiệp, được sự ủi an từ noi chính Chúa, được no thỏa điều công chính, được thương người và người thương, được thấy chính Chúa .

Thứ Hai Tuần X Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mt 5,1-12
1 Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. 2 Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
3 "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4 Phúc cho những ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp.
5 Phúc cho những ai đau buồn,
vì họ sẽ được ủi an.
6 Phúc cho những ai đói khát điều công chính,
vì họ sẽ được no thoả.
Phúc cho những ai hay thương xót người,
vì họ sẽ được xót thương.
8 Phúc cho những ai có lòng trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.
9 Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10 Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11 "Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. 12 Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời. Người ta cũng đã từng bắt bớ các tiên tri trước các con như vậy".

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015


Bửa cơm gia đình là nơi gắn kết yêu thương, nơi hội tụ của các thành viên trong một gia đình, thế nhưng ngày nay do điều kiện xã hội nên tâm lý con người cũng thay đổi. Áp lực công việc lớn, công ăn việc làm ngày càng trở nên khó khăn, trong khi nhu cầu cuộc sống, nhu cầu cá nhân ngày càng cao buộc con người phải lao vào kiếm sống khiến sự quan tâm tới các thành viên trong gia đình trở nên hạn hẹp. vì thế, bửa cơm gia đình ngày càng ít dần, ít dần. Chung quan điểm này, PGS.TS. Trịnh Hòa Bình, chuyên gia Xã hội học cũng cho rằng, trong những năm gần đây chức năng chăm sóc, giáo dục trong gia đình đang suy giảm đến mức đáng báo động. Trong bối cảnh đó càng đòi hỏi con người cần phải quay về các giá trị nhân văn, nguồn cội. Những giá trị nhân văn không thể thay thế được thể hiện qua những giá trị đạo đức rất đáng trân trọng như lòng chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, sự quý trọng, hiếu nghĩa của con cháu với cha mẹ, ông bà...

Khi ngồi nhìn lại tình yêu thương và các thành viên trong gia đình ngày nay từ từ mất dần, có những người con mê chơi, thích tự do nên không chấp nhận được lời nhắc nhở của cha mẹ, không thích ngồi ăn chung với gia đình, cũng có những người làm cha mẹ lại quá lo cho công việc, không còn giờ chăm chút cho bửa cơm gia đình. Cơm hộp cơm quán mặc ai nấy mua ăn.

Bữa cơm gia đình tưởng như nhỏ nhặt trong cuộc sống nhưng lại chính là nơi gắn kết các thành viên, là nơi giữ “lửa” hạnh phúc. Ông cha ta thường nói, để biết gia đình đó có hạnh phúc không thì hãy nhìn vào căn bếp. Bởi vì bữa cơm gia đình tuy không có nhiều món ăn cầu kỳ đắt tiền, nhưng thường người nấu ăn, trước hết là người vợ, người mẹ luôn quan tâm đến sở thích của chồng con. Đó chính là biểu hiện của sự quan tâm, chăm sóc đối với các thành viên gia đình.

Một câu chuyện buồn nhưng cảm động về tình cha con vô điều kiện và những thước phim về bữa cơm gia đình khiến người xem thổn thức.

http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/gia-dinh/tinh-cha-con-qua-doan-phim-ve-bua-com-doan-tu-3136946.html

Câu chuyện bửa cơm của thầy trò Giê-su dưới đây là một câu chuyện của tình yêu, ăn không những để sống những ăn để sống đời đời. Bửa ăn do chính những con người trong cuộc chuẩn bị, dọn bửa, những đây không phải là bửa ăn bình thường mà là bửa tiệc mừng Lễ Vượt qua. Trong chính bửa tiệc Chúa Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể, Bí tích của tình yêu.

Điều đó mời gọi chúng ta suy niệm về việc thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc cuối cùng. Việc thiết lập này diễn ra trong bối cảnh một bữa tiệc nghi lễ, tưởng niệm biến cố đặt nền tảng cho dân Israel là cuộc giải thoát khỏi ách nộ lệ bên Ai Cập. Bữa tiệc nghi lễ được liên kết với việc sát tế các con chiên (x. Xh 12,1-28.43-51) là kỷ niệm về quá khứ, nhưng đồng thời là kỷ niệm mang tính tiên tri, là sự loan báo về một cuộc giải phóng trong tương lai. Thật vậy, dân chúng biết rõ rằng cuộc giải phóng đó chưa phải là cuộc giải phóng cuối cùng, vì lịch sử của họ còn mang đầy dấu chứng nô lệ và tội lỗi. Kỷ niệm về cuộc giải phóng trong quá khứ dẫn đến việc khẩn cầu và chờ đợi một ơn cứu độ sâu xa hơn, thật cơ bản, phổ quát và tối hậu. Chính trong bối cảnh này mà Chúa Giêsu đưa vào tính chất mới mẻ của ân huệ Người. Trong lời kinh cảm tạ Berakah, Người tạ ơn Thiên Chúa không những vì các biến cố vĩ đại của quá khứ, nhưng còn vì việc Người được “tôn vinh”. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu thể hiện trước hy tế thập giá và chiến thắng phục sinh. Đồng thời Người minh chứng mình là con chiên đích thực chịu sát tế, được nhìn thấy trước trong kế hoạch của Chúa Cha ngay từ ban đầu khi sáng tạo vũ trụ, như lá thư thứ nhất của thánh Phêrô đã viết (x. 1,18-20). Khi đưa hy lễ của Người vào trong bối cảnh này, Chúa Giêsu loan báo ý nghĩa cứu độ của cái chết và sự phục sinh của Người, mầu nhiệm trở thành sự canh tân lịch sử và toàn thể vũ trụ. Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể cho thấy cái chết của Người, dù khủng khiếp và phi lý, đã trở thành trong Chúa Giêsu một hành vi yêu thương cao vời, và đối với nhân loại là cuộc giải phóng hoàn toàn khỏi sự dữ.

Mỗi khi được đi dự Thánh lễ là ta tham dự vào bửa tiệc Thánh Thể. ta lãnh nhận chính tình yêu của Chúa, tình yêu của anh chị em cũng chia sẻ với nhau chung một niềm tin. Trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa ta hãy cầu nguyện có những người vì lý do nào đó không còn quy tụ với cộng đoàn phục vụ trong bửa tiệc Thánh.

Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình ngày nay biết dành thời giờ chia sẻ với nhau của ăn nuôi dưỡng thân xác và đến với nhau qua bửa tiệc Thánh.
Chúa Nhật 10 Thường Niên (năm B). LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ
Lời Chúa: 
 Mc 14,12-16.22-26
Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Chúa Giêsu rằng: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?" Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng: "Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó. Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: 'Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu?' Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó". Hai môn đệ đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.
Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: "Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta". Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: "Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa". Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015



Thứ Năm Tuần IX Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mc 12,28b-34
28b Khi ấy, có người trong nhóm Luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: "Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?" 29 Chúa Giêsu đáp: "Giới răn trọng nhất chính là: 'Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, 30và ngươi hãy yêu mến †Chúa,‡ Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi'. 31 Còn đây là giới răn thứ hai: 'Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi'. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó". 32 Luật sĩ thưa Người: "Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất, và ngoài Người, chẳng có Chúa nào khác. 33 Yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh". 34 Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Và không ai dám hỏi Người thêm điều gì nữa.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015


Khi ta đối diện với núi đồi hùng vĩ, biển cả mênh mông, thế giới bao la, vũ trụ bí ẩn; ta thấy con người mình thật bé nhỏ, giới hạn trong một xó xỉnh nhỏ hẹp lọt thỏm trong cái mênh mông của vũ trụ lớn lao vô tận. Nói chi đến vũ trụ bao la, chỉ cần nhìn dòng người qua lại trên phố thị, ta cũng đã thấy mình rất bé, thật nhỏ, chẳng có gì để phải gây sự chú ý; đôi lúc nhìn lại chính bản thân mình, thật sự cũng không hiểu nổi, ngay cả khối óc tư duy để giúp mình suy nghĩ, phát biểu những điều này. Và tự hỏi:

Tại sao tôi có mặt trên cõi đời này?
Tại sao tôi có mặt tại nơi này mà không phải nơi khác, trong thế giới bao la mênh mông này?

Tại sao quãng đời ngắn ngủi của tôi lại diễn ra lúc này mà không phải lúc khác trong dòng thời gian vĩnh cửu?

Nhìn mọi phía, mình thấy thật vô tận và mình chỉ là một hạt bụi, một thoáng qua của sự bất tận, không bao giờ trở lại. Mình biết chắc chắn trước sau gì con người cũng phải chết; nhưng điều mà con người ít biết nhất đó chính là sự chết. Cái mà nhân loại vô phương né tránh.

Trên đường đời của một con người, chắc chắn lúc này hay lúc khác phải đối diện với những cô đơn, buồn chán; giống như cội cây trổ nhánh muôn hướng không định hình của kiếp thảo mộc. Từng ngày sống, mỗi ngày đi qua, cũng có lúc tự hỏi không biết mình nên làm điều gì, và điều gì không nên làm, tựa như cây rối rắm um tùm mọc lá (lá rối, lá mù).

Đối diện kiếp nhân sinh, tâm trạng nhiều người xung quanh, những trái tim đời nhiều lúc cũng lạnh lùng, trống trải, hoang tàn, phong trần kỷ niệm. Đời sống đầy u buồn vì nó tạm bợ. Tất cả - chim trời, hoa lá, niềm vui, những cuộc tình, và chính đời sống mỗi con người - chỉ là những điều tạm bợ, phù du như sương mù:

Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế...
(Trịnh Công Sơn - Cỏ xót xa đưa)

Ngày nay không ít người chẳng biết mình từ đâu tới, nên họ cũng không biết rồi sẽ đi về đâu. Người ta chỉ đoán rằng khi lìa đời họ sẽ mãi mãi đi vào cõi hư vô, hoặc mãi mãi đi về một cõi vô hình nào đó. Đây là tình trạng bất tri của nhân loại, đầy dẫy yếu đuối và bấp bênh thách thức sự tiến bộ của khoa học thực nghiệm. Nếu cái chết là kết tủa của sự tái sinh, thì khi một người ra đi, cũng là lúc người đó đang trở về. Nhìn sự sống và cái chết từ khía cạnh này cũng giống như khi ta nhìn nước trong một dòng sông, và tự hỏi liệu ta nên nói nó đang trôi đi hay đang chảy đến vậy.

Mà thôi suy nghĩ làm gì cho mệt, tôi cứ sống từng ngày một, không cần biết gì về số phận của mình. Có thể tôi sẽ tìm ra giải đáp cho những điều mình nghi ngờ, việc gì phải bận tâm khám phá những điều ấy! Nhiều khi cuộc sống đầy ắp vui vẻ như mặt trời luôn tỏa ánh sáng sưởi ấm cho đời, nhưng riêng ta thì không cảm nhận được điều đó, chưa vui chi lại thấy buồn đến: đời người vừa mới sinh ra còn nằm dưới vòng nôi, đã thấy đến ngày phải lìa đời.

Rồi một ngày đời vừa chấm hết thì thân phận của ta tựa như cây kia cỏ nọ, cũng phải ngậm ngùi vì thấy mình chưa làm được điều gì cả, cuối đời chỉ còn ngậm ngùi xót xa, khóc cười chen lẫn tiễn biệt:

Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
Dưới chân này cỏ xót xa đưa.
Người đã đến và người sẽ về bên kia núi
Từng câu nói là từng cánh buồm xa cuối trời
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời...
(Trịnh Công Sơn - Cỏ xót xa đưa)


Ai đó cho rằng đối với Trịnh Công Sơn: Nhạc là thơ, thơ là nhạc. Quả không sai vậy! Một chất nhạc-thơ mang đậm triết lý hiện sinh hữu thần thiên hướng Phật giáo: nhân sinh là bể khổ.

Vậy đâu là câu giải đáp cho tình trạng khốn cùng của đời người? Để né tránh vấn nạn này nhiều người tìm cách lẩn tránh, trốn chạy tình trạng bất toàn của kiếp người như: tiêu phí thời giờ, công sức, suy tính, tìm tòi những giá trị tầm thường, những thú tiêu khiển chóng qua... Nói chung họ chỉ xoay quanh chính mình, với tiền của, danh lợi, tình cảm, nghệ thuật, âm nhạc, thể thao, du lịch... Cuối cùng chẳng thấy đâu là hạnh phúc, ý nghĩa đích thực của cuộc đời, chỉ thấy một thế giới kiêu ngạo, tham lam, ích kỷ, lừa dối, lo âu, buồn chán, tội ác, bệnh tật, chết chóc và trống rỗng!

Có thể bạn cho là vơ đũa cả nắm khi ghép chung những tay anh chị, những kẻ tư kỷ chỉ biết hưởng lạc với những người xả thân hy sinh cho tha nhân, cho xã hội, hay những bậc tu hành, những nhà đạo đức luôn tìm kiếm điều thiện thánh... Vâng, tôi có nghĩ đến điều đó và tự hỏi, phải chăng vì đã tìm thấy hạnh phúc và ý nghĩa của cuộc đời nên họ đã sống như vậy, hay họ cũng vẫn loay hoay thích ứng chỉ mong đi tìm hạnh phúc và ý nghĩa của cuộc đời "bằng và qua" những cách sống ấy?

Nếu họ đã tìm thấy, thì tôi ao ước biết được bí quyết để có một cuộc đời hạnh phúc và ý nghĩa. Nhưng nếu họ đang đi tìm thì họ cũng chỉ đang đi trên con đường dẫn đến đau khổ mà thôi. Vì khi càng cố sống cho phù hợp với những tiêu chuẩn khách quan của điều thiện bao nhiêu, con người càng ý thức một cách đau khổ rằng mình không có khả năng làm được điều mình ước muốn bấy nhiêu (x. Rm. 7,15-20).

Blaise Pascal đã nói rằng muốn tìm kiếm giải pháp cho những bế tắc, cho tình trạng khốn cùng của con người thì con người phải nhận biết Thượng đế. Đấng làm cho con người thật sự hạnh phúc khi được dựng nên giống hình ảnh Người, để nhận biết và thờ phượng Người. Có mấy ai thấy vấn nạn của đời sống mình có liên hệ với sự nhận biết Thượng đế?

Đáp lại câu hỏi: "Tôi là ai? Tôi có mặt trong cõi đời này để làm gì? Rồi tôi sẽ đi về đâu?"; Chủ thuyết hiện sinh vô thần cho rằng: "Con người là một sản phẩm tình cờ của thiên nhiên, một kết quả từ vật chất, cộng thời gian, cộng ngẫu nhiên". Vì là ngẫu nhiên, tình cờ nên sự hiện diện của con người không có lý do, không có mục đích. Đối diện sau cùng của con người là sự chết. Là dấu chấm hết đối với tất cả mọi sự sau khi tắt thở:

... Người đã đến và người sẽ về bên kia núi
Từng câu nói là từng cánh buồm xa cuối trời
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời.
(Trịnh Công Sơn - Cỏ xót xa đưa)

Con người giống như những sinh vật khác phải chết. Không có hy vọng gì vào cõi trường sinh, cuộc sống chỉ hướng đến mồ mả. Đời người chẳng khác một tia sáng chợt loé lên trong bóng tối vô cùng tận, rồi tắt lịm mãi mãi. So với thời gian vô tận, thì đời người chỉ là một thoáng qua không đáng kể, sống vài năm hay vài mươi năm thật ra không khác gì nhau. Bây giờ tôi biết mình đang tồn tại trong cõi đời này, rồi một ngày kia tôi sẽ chết, không còn hiện hữu nữa (đó là ngày nào tôi không biết):

Có biết gì về ngày chưa tới
Những ngày ngồi rủ tóc âm u
Nghe tiền thân về chào tiếng lạ
Những mai hồng ... ngồi nhớ ... thiên thu.
(Trịnh Công Sơn - Cỏ xót xa đưa)

Nếu không có sự sống đời sau, thì không có sự bất diệt. Nếu chết là hết, con người không còn hiện hữu khi qua đời, thì ý nghĩa cuối cùng của đời người là gì?

Việc một người được sinh ra, hiện diện trên mặt đất này vài giờ hay vài chục năm có gì quan trọng, có gì giá trị không? Có thể cho rằng cuộc sống người ấy là quan trọng vì đã gây ảnh hưởng lớn đến người khác, và ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nữa. Thật ra, nếu không có Thượng đế thì ảnh hưởng ấy có ý nghĩa gì? Khi mọi sự kiện chỉ là vật chất tình cờ xảy ra thì việc tác động trên các biến cố, trên các sự kiện ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng nhân loại cũng chỉ như một đám côn trùng ruồi muỗi hay một giống loài sinh vật nào đó, điểm tận cùng đều như nhau? Chết là hết, là chấm dứt. Quá trình cuộc sống ngẫu nhiên đã sản sinh thì cũng ngẫu nhiên biến mất:

Nào phàm nhân sống mãi được sao
Mà chẳng phải đến ngày tận số?...
... Dù sống trong danh vọng,
Con người cũng không thể trường tồn;
Thật nó chẳng khác chi,
Con vật một ngày kia phải chết.
(Tv. 48,10;13)

Nếu thật vậy thì những đóng góp của các nhà khoa học để gia tăng tri thức cho con người; những công trình nghiên cứu của y học để tiêu trừ bệnh tật, làm giảm bớt đau đớn thể lý cho bệnh nhân; những nỗ lực của các nhà ngoại giao để tìm kiếm hòa bình cho thế giới; những hy sinh của biết bao người để thăng tiến mức sống con người; những mồ hôi nước mắt của các nhà giáo dục... tất cả đều uổng công. Rốt cục họ cũng chẳng tạo được điều gì khác biệt. Vì cuộc đời con người cuối cùng chẳng còn lại gì sau khi chết đi; tất cả sẽ trở nên vô nghĩa, nên mọi hoạt động trong cuộc đời cũng vô nghĩa. Thời gian dùi mài kinh sách, làm việc, nghiên cứu, tình liên đới... phân tích cho cặn kẽ, mọi thứ đều vô nghĩa. Và vì tận cùng của con người không có gì cả, nên cuộc sống con người không là gì cả.

Nếu thử giả định rằng con người sẽ không chết, con người có khả năng tồn tại mãi mãi thì còn kinh khủng và tồi tệ hơn nữa. Vì nếu không có sự sống đời sau; nếu con người chỉ là sản phẩm của vật chất, của ngẫu nhiên; nếu cuộc sống không có mục đích, không có ý nghĩa thì sống mãi, tồn tại mãi để làm gì?

Xét về tính chất một sản phẩm vô tri của vật chất, cộng thời gian, cộng ngẫu nhiên thì con người có hơn gì loài giun dế vì cũng đều là kết quả của mối tương tác vô tri giữa ngẫu nhiên và nhu cầu. Nói thế thật khó nghe, nhưng nếu không có cuộc sống đời sau thì đó là sự thật. Nếu không có sự sống đời sau thì bạn và tôi chỉ là một kết hợp tình cờ của thiên nhiên, đột nhiên xuất hiện trong một vũ trụ không có mục đích, để sống một cuộc đời vô mục đích, thiếu ý nghĩa mà thôi!

Còn một vấn đề nữa. Nếu không có sự sống đời sau, thì không có sự bất diệt. Nếu chết là hết. Nếu cuộc đời con người chấm dứt ở nấm mồ; cuộc sống không có mục đích nào, thì nào có gì khác biệt khi người ấy sống như một kẻ gian ác hay như một vị thánh?

Văn hào F. M. Dostoyevsky đã viết: "Nếu không có sự bất diệt thì chúng ta đều được phép làm mọi sự". Và rất có lý khi ai đó ca tụng tính ích kỷ: hãy sống cho chính mình; hoặc chủ trương: vì cuộc đời quá ngắn ngủi nên đừng liều lĩnh thực hiện bất cứ điều gì không phải là tư lợi, hy sinh cho người khác là dại dột, ...

Nếu không có sự sống đời sau thì chẳng có tiêu chuẩn tuyệt đối nào để thẩm định đúng - sai, phải - trái, thiện - ác, lành - dữ. Ai có thể tuyên phán giá trị nào đúng, giá trị nào sai? Quan niệm đạo đức mất hết tất cả ý nghĩa trong một vũ trụ không có Thượng đế, không có sự sống đời sau. Có nghĩa là không thể lên án chiến tranh, áp bức, tội ác, ma tuý, đĩ điếm... và liệt kê các điều tương tự đó là điều ác được. Cũng không ai có thể ca ngợi tình huynh đệ, sự bình đẳng, tình yêu, sự hiệp nhất... và coi những điều giống vậy là điều thiện hảo.

Sống ở đời này mà không có sự sống ở đời sau thì thiện ác không tồn tại, mà chỉ như Jean Paul Sarte nói: "Tất cả những gì chúng ta đương đầu chỉ là những thực tế trơ trọi, vô giá trị". Nếu không có sự sống đời sau thì cuộc sống đời này chỉ là vô nghĩa, vô mục đích, vô giá trị!

Bạn có hiểu tầm mức quan trọng của sự lựa chọn bày ra trước mặt chúng ta hay không? Vì nếu sự sống đời sau hiện hữu thì còn có hy vọng cho con người, cho bạn, cho tôi. Nhưng nếu không có sự sống đời sau thì chúng ta thành những kẻ tuyệt vọng.

Ai cũng muốn chứng minh đời sống của mình có giá trị, cuộc sống của mình có ý nghĩa, có mục đích vì ai cũng muốn mình hạnh phúc. Thế nhưng khi tìm kiếm những điều này thì họ đã mâu thuẫn với niềm tin "không có Thượng đế", "không có đời sau", mọi sự chỉ là ngẫu nhiên kia mà!

Bạn có biết vì sao người ta luôn cố gắng chứng tỏ mình tài giỏi, mình thành công, mình đẹp... và nếu được thì còn hơn người khác nữa? Vì sao người ta cảm thấy khốn khổ khi không được người khác yêu thương, khen ngợi? Vì sao con người lại sợ cô đơn, sợ bệnh tật, sợ lừa dối, sợ chết...? Vì sao người ta cố gắng sống thiện lành, để ân để đức lại cho con cháu? Vì thật ra người ta không thể sống đúng với quan niệm cho rằng mình chỉ như con giun con dế, một sản phẩm của ngẫu nhiên, sự tình cờ, và rồi một ngày nào đó không còn là gì cả.

Tại sao người ta lên án chiến tranh, lên án chế độ nô lệ, lên án phân biệt chủng tộc, kỳ thị giai cấp? Tại sao người ta lên án sự lừa dối, sự phản bội, sự độc tài, sự độc đoán? Tại sao chấp nhận sử dụng chuột, thỏ... làm động vật thí nghiệm mà lại lên án khi đem con người làm động vật thí nghiệm? Tại sao người ta lên án những xung đột tranh chấp, những hành động cực đoan gây đổ máu, tạo thương vong, và làm chết nhiều người, đâu đó khắp nơi trên thế giới này?

Vì con người không thể sống thành thật với quan niệm cho rằng giá trị con người chỉ là kết quả của sự tác hợp vô tri giữa ngẫu nhiên và nhu cầu. Người ta không thể sống thành thật với quan niệm cho rằng vấn đề thiện ác, đạo đức chỉ là sở thích cá nhân... Nhưng như vậy là đã mâu thuẫn, là đã phản bác điều họ vẫn tin "không có sự sống đời sau" mất rồi!

Tại sao lại phải cố gắng đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ? Thiên nhiên thế nào cũng đúng cả mà, phụ nữ có khác gì một con gà mái hay một con dê cái? Có ai sống nỗi với quan niệm như vậy không?!

Tại sao chính những người vô thần, những người tuyên bố "không có đời sau" lại lên án những kẻ tự kỷ chỉ biết hưởng thụ vui chơi? Tại sao họ lại ca ngợi những người biết dốc lòng cho thế hệ mai sau? Vì tự thâm tâm họ hiểu điều họ nói - chết là hết - là không đúng. Con người chết chưa phải là hết, không thể nào kẻ gian ác hay người thiện lành, kết cuộc những năm tháng của mình sống trên đời một cách giản đơn như thế - chỉ là một nấm mồ - rồi sau đó không còn gì nữa cả. Không thể thế được. Không đúng thế.

Trong một thế giới mà công lý con người luôn luôn thay đổi, chỉ có tính tương đối và thường hay lầm lẫn, bạn có thể sống nổi với quan niệm rằng sự tàn ác, sự gian dối của con người rồi sẽ qua đi mà không hề bị trừng phạt, cũng như không có sự ban thưởng cho người ngay kẻ lành? Chân phước Hồng y John Henry Newman nói rằng: "Nếu tôi tin rằng mọi điều ác và bất công trên đời này qua suốt cả lịch sử không được trình ra trước mặt Thượng đế ở đời sau, thì thà tôi làm người điên còn hơn".

Thế giới quan vô thần không thể hội đủ điều kiện để sống cuộc đời hạnh phúc. Không ai có thể sống với niềm tin "không có sự sống đời sau"; vì cuộc đời từ chối sự sống đời sau sẽ vô nghĩa, sẽ không có mục đích, sẽ không có giá trị. Khi chối từ sự sống đời sau người ta nghĩ rằng mình được giải phóng khỏi các luật lệ ràng buộc để sống tuỳ ý mình thích; nhưng thực tế cho thấy khi gạt bỏ sự sống đời sau, con người đã tự phủ nhận chính mình.

Ngược lại, người có niềm tin nơi Thượng đế - Tin có sự sống đời sau - sẽ không chán chường thất vọng, mất phương hướng khi đối diện trước cái chết. Chính niềm tin vào sự sống lại và có sự sống đời sau đã trở nên trung tâm điểm của đức tin và niềm hy vọng Kitô giáo.

Chính Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống - Đấng đã đến và sống trong lịch sử nhân loại, đã chịu chết bởi khổ hình thập giá, thời quan tổng trấn Philate trị vì miền Judea, xứ Plalestina; và đã sống lại với tư cách là "trưởng tử trong những kẻ chết" (x. Cv. 26,23; Cl. 1,18; Kh. 1,5) - là người đầu tiên đi vào sự sống mới này (sự sống đời sau).

Sự sống lại của Đức Giêsu là đối tượng đầu tiên của đức tin của người Kitô hữu, sự sống lại cũng là nền tảng cho niềm hy vọng của họ và xác định đích điểm cho niềm hy vọng ấy. Đức Giêsu đã sống lại "như của đầu mùa của những kẻ đã yên giấc" (x. 1Cr. 15,20). Điều đó là nền tảng cho niềm trông đợi sống lại của mọi tín hữu Kitô vào ngày sau cùng. Hơn nữa, Đức Giêsu còn là hiện thân "sự sống lại và là sự sống: Ai tin vào Người dù có chết cũng sẽ được sống" (x. Ga. 11,25). Đó là nền tảng của niềm tin vững chắc nơi người có đức tin ở Đức Giêsu Kitô, được tham dự ngay từ bây giờ vào mầu nhiệm của cuộc sống mới mà Người cho họ bước vào qua những dấu chỉ Bí tích.

Khi còn đang ở đời này, chính lúc được mai táng với Đức Kitô trong Phép Rửa, người tín hữu Kitô cũng được sống lại với Người, vì họ đã tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Người từ kẻ chết sống lại (x. Cl. 2,12; Rm. 6,4 tt). Đời sống mới mà khi ấy người Kitô hữu tham dự vào không gì khác hơn là đời sống của chính người-phục-sinh (Ep. 2,5 tt). Đời sống người Kitô hữu hiện tại, được xem như tham dự "trước một bước" vào sự sống lại mai sau.

Tóm lại, niềm xác tín căn bản này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người Kitô hữu, mà còn điều khiển cả cuộc sống Kitô giáo. Từ đây, nó chi phối hành vi của con người mới được sinh ra trong Đức Kitô: "Được sống lại cùng với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời, là nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa" (x. Cl. 1,3 tt). Nó cũng là nguồn hy vọng của mọi Kitô hữu. Vì nếu người Kitô hữu - người có niềm tin vào Đức Kitô - thao thức mong đợi thân xác khốn nạn của mình sau cùng được biến đổi thành một thân xác vinh hiển, là vì có những bảo chứng của một tình trạng mai sau (x. Rm. 8,23; 2Cr. 5,5). Sự sống lại sau cùng của mọi tín hữu chỉ làm sáng tỏ thực trạng đã có trong thực tại bí ẩn của mầu nhiệm đời sống mới trong Đức Kitô Phục sinh mà thôi (x. Cl. 3,4; 1Cr. 15,20-23; 35 tt).

Vậy thì, nếu như:
... Có biết gì về ngày chưa tới
Những ngày ngồi rủ tóc âm
Nghe tiền thân về chào tiếng lạ
Những mai hồng ... ngồi nhớ ... thiên thu.
(Trịnh Công Sơn - Cỏ xót xa đưa)

Thì đây chỉ là một trong những suy tư kết thúc cuộc lữ hành trần thế của con người, tức là kết thúc thời gian của ân sủng và của lòng thương xót mà Thiên Chúa ban cho con người, để họ thực hiện cuộc đời trần thế của mình theo kế hoạch của Thiên Chúa và để họ tự quyết định số phận tối hậu của mình vậy!

nguồn:gpvinhlong,net

Tác giả của những suy tư trên cũng là những điều đã đặt câu hỏi do nhóm người phái Sa đốc đến cùng Chúa Giêsu khi họ đặt một câu chuyện nghe thì hợp lý, nhưng ngẫm lại thì lại vô lý, vô lý khi đặt một người đàn bà mà trải qua 7 đời chồng, thực tế làm sao có người dám cưới người đàn bà này chỉ cần 1 đến hai đời chồng mà không có con thì chắc chắn không ai dám lấy người đàn bà này để làm vợ, vì bà ta không có khả năng làm mẹ, thì làm sao lưu truyền nòi giống được. Câu chuyện chỉ là cái cớ để nhóm Sa đốc chất vấn Chúa Giêsu về chuyện sự sống mai sau vì nhóm này không tin có sự sống lại.

Hãy cũng nghe Chúa Giêsu trả lời qua cuộc chất vấn hôm nay.

Xin Chúa cho con và nhân loại biết có cuộc sống ngày mai để con biết sống giây phút hiện tại thật tốt và làm lành lánh dữ để ngày mai con sẽ là thiên thần trong nước Chúa.


Thứ Tư Tuần IX Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mc 12,18-27
18 Khi ấy, có ít người phái Sa đốc đến cùng Chúa Giêsu; phái này không tin có sự sống lại và họ hỏi Người rằng: 19 "Thưa Thầy, luật Môsê đã truyền cho chúng tôi thế này: Nếu ai có anh em chết đi, để lại một người vợ không con, thì hãy cưới lấy người vợ goá đó để gây dòng dõi cho anh em mình. 20 Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết không con. 21 Người thứ hai lấy người vợ goá và cũng chết không con, và người thứ ba cũng vậy, 22 và cả bảy người không ai có con. Sau cùng người đàn bà ấy cũng chết. 23 Vậy ngày sống lại, khi họ cùng sống lại, thì người đàn bà đó sẽ là vợ của người nào? Vì cả bảy anh em đã cưới người đó làm vợ". 24 Chúa Giêsu trả lời rằng: "Các ông không hiểu biết Kinh Thánh, cũng chẳng hiểu biết quyền phép của Thiên Chúa, như vậy các ông chẳng lầm lắm sao? 25 Bởi khi người chết sống lại, thì không lấy vợ lấy chồng, nhưng sống như các thiên thần ở trên trời. 26 Còn về sự kẻ chết sống lại, nào các ông đã chẳng đọc trong sách Môsê chỗ nói về bụi gai, lời Thiên Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ta là Chúa Abraham, Chúa Isaac và Chúa Giacóp". 27 Người không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống. Vậy các ông thật lầm lạc".
http://tonggiaophansaigon.com/suy-niem/20150602/30811

Câu chuyện có thật xảy ra tại một phiên tòa ở Indonesia.

Một bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupiah vì tội ăn cắp.

Lời bào chữa của bà, lý do ăn cắp vì gia đình bà rất nghèo, đứa con trai bị bệnh, đứa cháu thì suy dinh dưỡng vì đói.

Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng sắn nói bà ta cần phải bị xử tội nghiêm minh như những người khác.

Thẩm phán thở dài và nói:

- Xin lỗi, thưa bà… (Ông ngưng giây lát, nhìn ngắm bà cụ đói khổ) nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của pháp luật nên phải xử nghiêm minh.

Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn sắn.vNếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi.

Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo.

Thế rồi ông thẩm phán lại nói tiếp:

- Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toàn này 50.000 Rupiah. Bởi vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật.

Nói xong, ông cởi mũ của mình ra và đưa cho cô thư ký :

- Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo.

Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3,5 triệu Rupiah tiền quyên góp, trong đó có cả 50.000 Rupiah từ các công tố viên buộc tội bà, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupiah tiền bồi thường, bà lão run run vì vui sướng.

Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà trong hạnh phúc của tất cả mọi người.

Đây là một phiên tòa xử nghiêm minh và cảm động nhất mà tôi được biết.

Bởi vì tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm với cuộc sống xung quanh chúng ta, vị thẩm phán đã không chỉ dùng luật pháp mà còn dùng cả trái tim để phán xét.
Trong các mối quan hệ, tương quan trong cuộc sống ta thường nói đến công bằng, ăn thì phải trả tiền, học thì phải đóng học phí, làm sai thì phải bị phạt. Thế nhưng công bằng có giá trị của nó khi sự công bằng phải được bao phủ bằng chính tình người.

"Vậy thì của Cêsarê, hãy trả cho Cêsarê; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa"

Xin cho con biết sống công bằng trong ứng trong cuộc sống bằng tình người, bằng sự cảm thông.

Thứ Ba Tuần IX Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mc 12,13-17
Khi ấy, người ta sai mấy người thuộc nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê đến Chúa Giêsu để lập mưu bắt lỗi Người trong lời nói. Họ đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật không vị nể ai, vì Thầy chẳng xem diện mạo, một giảng dạy đường lối Thiên Chúa cách rất ngay thẳng. Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsarê không? Chúng tôi phải nộp hay là không?" Nhưng Người biết họ giả hình, nên bảo rằng: "Sao các ông lại thử Ta? Hãy đưa Ta xem một đồng tiền". Họ đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: "Hình và ký hiệu này là của ai?" Họ thưa: "Của Cêsarê". Người liền bảo họ: "Vậy thì của Cêsarê, hãy trả cho Cêsarê; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa". Và họ rất đỗi kinh ngạc về Người.
Những bàn tay bắt đầu giơ lên. Anh ta nói tiếp: "Tôi sẽ đưa tờ 20 đô la cho bạn - nhưng điều đầu tiên, hãy để tôi làm việc này!"
Anh ta vò nhàu tờ 20 đô la. Sau đó, anh ta lại hỏi: ""Còn ai muốn tờ bạc này không?". Vẫn có những bàn tay đưa lên.
"Ồ, vâng, nó sẽ như thế nào nếu tôi làm thế này?" - nói rồi anh ta quẳng nó xuống sàn và giẫm giày lên. Sau đó, anh ta nhặt tờ bạc lên, bây giờ trông nó đã nhàu nát và dơ bẩn. "Nào, ai còn muốn có tờ bạc này nữa?". Vẫn còn những bàn tay đưa lên

"Những người bạn của tôi, tất cả các bạn phải học một bài học rất giá trị. Không có nghĩa gì đối với những việc tôi làm với đồng tiền, bạn vẫn muốn có nó bởi vì nó không giảm giá trị. Nó vẫn có giá trị là 20 đô la. Nhiều lần trong cuộc sống của chúng ta, bạn bị rơi ngã, bị "vò nhàu" và bị vẩn đục bởi những quyết định mà chúng ta làm và những hoàn cảnh đến với chúng ta. Chúng ta cảm thấy hình như chúng ta trở nên vô giá trị; nhưng không có nghĩa lý gì những gì đã xảy ra, bạn sẽ không bao giờ mất đi giá trị của mình. Dù thế nào đi nữa, bạn cũng là vô giá với những người yêu thương bạn. Giá trị của cuộc sống chúng ta được quyết định không phải do những gì chúng ta làm hoặc người mà chúng ta quen biết, mà bởi... chúng ta là ai.
Bạn thật đặc biệt - đừng bao giờ quên điều đó!

Câu chuyện dụ ngôn sau đây cho bạn hiểu hơn về giá trị thật của chính mình, dù bạn và tôi có là gì đi nữa thì giá trị thật trong tôi và bạn vẫn là ân ban của Đấng tạo dựng nên chúng ta.

Xin cho tôi và bạn ý thức chính mỗi người là một viên đá để xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo hội và xã hội trở nên sống động hơn. Từ đó tôi sống cho đúng với những gì mà Đấng tạo hóa đã dựng nên tôi mong muốn trở thành đá góc tường.

Thứ Hai Tuần IX Thường Niên
Lời Chúa: 
 Mc 12,1-12
Khi ấy, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão rằng: "Có người trồng một vườn nho, rào dậu xung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp, đoạn cho tá điền thuê vườn nho và trẩy đi phương xa. "Ðến kỳ hạn, ông sai đầy tớ đến với tá điền thu phần hoa lợi vườn nho. Nhưng những người này bắt tên đầy tớ đánh đập và đuổi về tay không. Ông lại sai đầy tớ khác đến với họ. Người này cũng bị chúng đánh vào đầu và làm sỉ nhục. Nhưng người thứ ba thì bị chúng giết. Ông còn sai nhiều người khác nữa, nhưng kẻ thì bị chúng đánh đập, người thì bị chúng giết chết.
"Ông chỉ còn lại một cậu con trai yêu quý cuối cùng, ông cũng sai đến với họ, (vì) ông nghĩ rằng: "Chúng sẽ kiêng nể con trai ta". Nhưng những tá điền nói với nhau rằng: "Người thừa tự đây rồi, nào ta hãy giết nó và cơ nghiệp sẽ về ta". Ðoạn chúng bắt cậu giết đi và quăng xác ra ngoài vườn nho. Chủ vườn nho sẽ xử thế nào? Ông sẽ đến tiêu diệt bọn tá điền và giao vườn nho cho người khác. Các ông đã chẳng đọc đoạn Thánh Kinh này sao: "Tảng đá những người thợ xây loại ra, trở thành đá góc tường. Ðó là việc Chúa làm, thật lạ lùng trước mắt chúng ta". Họ tìm bắt Người, nhưng họ lại sợ dân chúng. Vì họ đã quá hiểu Người nói dụ ngôn đó ám chỉ họ. Rồi họ bỏ Người mà đi.